Diễn biến lâm sàng qua các giai đoạn

Việc nhận diện bệnh cần dựa trên diễn tiến lâm sàng qua 4 giai đoạn. Sau thời gian ủ bệnh từ 3 đến 7 ngày, trẻ bước vào giai đoạn khởi phát kéo dài 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn và tiêu chảy.

Giai đoạn toàn phát kéo dài từ 3 đến 10 ngày là thời điểm các triệu chứng điển hình bộc lộ rõ nhất. Biểu hiện chính là tổn thương niêm mạc miệng dưới dạng vết loét đỏ hoặc phỏng nước đường kính 2-3mm ở lợi, lưỡi, gây đau khiến trẻ bỏ ăn. Đồng thời, các sang thương da dạng hồng ban hoặc bóng nước xuất hiện ở lòng bàn tay, bàn chân, gối, mông và thường tồn tại dưới 7 ngày.

Cán bộ y tế cần đặc biệt lưu ý các dấu hiệu cảnh báo biến chứng thần kinh, tim mạch và hô hấp, thường xuất hiện sớm từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 của bệnh. Trong đó, giật mình chới với là dấu hiệu quan trọng nhất báo hiệu biến chứng thần kinh. Ngoài thể cấp tính điển hình, bệnh còn có thể tối cấp dẫn đến tử vong trong vòng 24-48 giờ hoặc thể không điển hình với các dấu hiệu phát ban không rõ ràng.

Cận lâm sàng và chẩn đoán xác định

Về xét nghiệm cơ bản, bạch cầu thường trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên, nếu bạch cầu tăng trên 16 G/L, đường huyết tăng trên 160 mg% (8,9 mmol/L) hoặc tiểu cầu tăng trên 400 G/L thì thường liên quan đến biến chứng. Để chẩn đoán xác định nguyên nhân, phương pháp RT-PCR hoặc phân lập vi rút được thực hiện từ bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước hoặc trực tràng.

Trong quá trình chẩn đoán, cần phân biệt tay chân miệng với các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự. Đối với loét miệng, cần phân biệt với viêm loét miệng (áp-tơ) thường có vết loét sâu và hay tái phát. Đối với phát ban da, cần chẩn đoán phân biệt với sốt phát ban, dị ứng, viêm da mủ, thủy đậu hoặc nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu .

Phân độ lâm sàng: Chìa khóa trong điều trị

Quyết định số 292/QĐ-BYT phân loại bệnh thành 4 độ, đây là cơ sở quan trọng nhất để quyết định hướng xử trí.

Độ 1 là mức độ nhẹ nhất, trẻ chỉ có phát ban tay chân miệng hoặc loét miệng. Bệnh chuyển sang Độ 2 khi bắt đầu có biến chứng thần kinh. Cụ thể, Độ 2a được xác định khi trẻ có tiền sử giật mình dưới 2 lần trong 30 phút, sốt trên 2 ngày hoặc sốt cao trên 39°C kèm nôn ói, lừ đừ . Độ 2b là mức độ nặng hơn với dấu hiệu giật mình ghi nhận lúc khám, hoặc bệnh sử giật mình kèm theo ngủ gà, mạch nhanh trên 130 lần/phút . Nhóm này cũng bao gồm các triệu chứng thất điều, run chi, rung giật nhãn cầu, yếu liệt chi hoặc liệt thần kinh sọ .

Độ 3 biểu hiện biến chứng rối loạn thần kinh thực vật nặng, với mạch nhanh trên 170 lần/phút, huyết áp tâm thu tăng cao theo độ tuổi, vã mồ hôi hoặc hô hấp bất thường . Cuối cùng, Độ 4 là tình trạng suy hô hấp tuần hoàn nặng với các biểu hiện ngưng thở, tím tái, phù phổi cấp hoặc sốc . Việc phân độ chính xác giúp bác sĩ kịp thời chuyển tuyến hoặc đưa ra phác đồ hồi sức tích cực phù hợp, giảm thiểu nguy cơ tử vong.

CN. Hồ Ngọc Hà – Trung tâm Hỗ trợ, Đào tạo liên tục